Lập trường hoảng loạn của đảng CSVN trong vụ án Chống Xét Lại năm 1963


Theo Wikipedia

Vụ án ‘Xét lại Chống Đảng‘, còn được chính quyền CS Việt Nam gọi là “Vụ án Tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài là một vụ án chính trị do Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn trực tiếp chỉ đạo đưa đến việc bắt giam không xét xử nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao động Việt Nam và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc từ năm 1967 với cáo buộc những người này đi theo Chủ nghĩa Xét lại (của Liên Xô) và làm gián điệp cho nước này. Sau này, từ năm 1973 hầu hết lần lượt được thả tự do.

Vụ án được cho là bắt nguồn từ cuộc tranh chấp đường lối chính trị nội bộ Đảng Lao động Việt Nam và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc.

– Một bên là Lê DuẩnNguyễn Chí Thanh, theo Mao Trạch Đông, tuyệt đối bảo thủ chủ nghĩa CS độc tài dã man.

– Bên kia là Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp muốn theo Liên Xô cải cách.

– Ô. Hồ Chí Minh lúc đầu không ủng hộ phe nào nhưng sau lại chấp nhận đường lối của Lê Duẩn, mở đầu cho các cuộc bắt giữ năm 1963, nghĩa là ông Hồ Chí Minh cũng hoảng loạn không kém.

Theo Trần Đĩnh, nhóm ủng hộ Lê Duẩn còn có Tố Hữu, Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng với ý tưởng theo Tàu Cộng. Mà Tố Hữu từng ca ngợi Stalin hơn cả cha 10 lần.

Bối cảnh

Vào tháng 9 năm 1953, Nikita Sergeyevich Khrushchyov được bầu làm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tại đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, ông đọc một bản báo cáo chống sự sùng bái cá nhân Stalin. Ông chủ trương chung sống hòa bình với thế giới Tư bản (“Các nước không cùng lập trường chính trị có thể sống chung.”); các nước cộng sản không nên tìm kiếm đối đầu quân sự với phương Tây mà cần cạnh tranh kinh tế với khối tư bản. Đường lối của Khrushchyov bị Trung Quốc, dưới thời Mao Trạch Đông, chống lại và gọi là “Chủ nghĩa Xét lại”.

Cũng vì thế, đảng CSVN đàn em tại Việt Nam hoảng loạn, đảng viên cộng sản phân hóa thành hai nhóm, một nhóm chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev (chủ trương tạm thời sống hòa bình với Hoa Kỳ), không phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam, cho rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Họ hi vọng có thể thống nhất hòa bình như Hiệp định Genève quy định; ngược lại, nếu đấu tranh vũ trang sẽ đẩy Hoa Kỳ nhảy vào trực tiếp tham chiến, và khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn làm mất lòng Liên Xô.

Nhóm kia ủng hộ quan điểm của Trung Quốc, muốn theo đuổi chính sách cứng rắn của Mao Trạch Đông, ủng hộ chiến tranh giải phóng miền Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu chỉ trích Liên Xô và nhóm “chủ hòa” rằng: “Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc”.

Cũng vì vậy mà cuộc chiến tại miền Nam đã tạo cảnh tương tàn giữa dân tộc Việt Nam đưa đến thảm cảnh khó hàn gắn.

Trong hồi ký Tử tù tự xử lí của Trần Thư (TTK báo Quân Đội Nhân Dân, ông mô tả lúc bấy giờ “tâm lý chủ chiến bao trùm xã hội miền Bắc”. Trong giai đoạn 1954-1959, theo BBC Việt ngữ, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp ủng hộ ý kiến của nhóm đầu tiên vì cơ hội thi hành Hiệp định Genève vẫn còn; đến sau năm 1959, khi cơ hội thi hành Hiệp định Genève không còn thì hai người ủng hộ quan điểm của nhóm kia, nghĩa là không dứt khoát.

Những bất đồng của hai nhóm trong nội bộ đảng không dừng lại ở năm 1963-1964 mà kết thúc bằng đợt bắt giữ những người ủng hộ quan điểm của Khrushchyov vào năm 1967, theo tường thuật của Trần Đĩnh, người tự nhận là đã viết tiểu sử chính thức cho Hồ Chí Minh.

Lê Duẩn đã lợi dụng cơ hội này để vô hiệu hóa đối thủ trong nước và thiết lập hệ thống công an chặt chẽ ở miền Bắc. Việc thanh lọc để bắt những nhân vật trong vụ án được diễn ra vào năm 1967, vào thời điểm xây dựng bản Nghị quyết 14 ban hành vào đầu năm 1968, đúc kết và định hướng cho cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968. Ông Vũ Thư Hiên cho rằng: “Trong vụ án này, đối tượng của họ chưa biết là xét lại hay là không, nhưng vì họ đều không đồng tình với quan điểm dùng bạo lực để giải phóng miền Nam Việt Nam.”

Những nhân vật liên hệ trong vụ án

Một nghiên cứu về sự kiện này của Sophie Quinn-Judge được công bố trên tạp chí Journal of Cold War History tháng 11 năm 2005, ước lượng trong Vụ án Xét lại Chống Đảng, có khoảng 300 người bị bắt, trong đó có 30 nhân vật cao cấp.

  • Những người bị bắt gồm có nhiều đảng viên lão thành, tướng lĩnh, nhà nghiên cứu và nhà báo:
    • Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin Hoàng Minh Chính (được coi là đứng đầu nhóm Xét lại Chống Đảng, bị bắt ngày ngày 27 tháng 7 năm 1967)
    • Vụ trưởng Lễ tân Bộ Ngoại giao Vũ Đình Huỳnh (cựu bí thư của Hồ Chí Minh, cựu tù Sơn La, từng là thành viên Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, cha Vũ Thư Hiên, bị giam 6 năm trong Vụ án Xét lại Chống Đảng, bị bắt ngày ngày 18 tháng 10 năm 1967)[15]
    • Đại tá Lê Trọng Nghĩa, cục trưởng Cục Tình báo quân đội (bị bắt ngày 6 tháng 1 năm 1968)
    • Đại tá Lê Minh Nghĩa, chánh văn phòng Bộ Quốc phòng
    • Đại tá Đỗ Đức Kiên, cục trưởng Cục Tác chiến
    • Phó Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân Hoàng Thế Dũng
    • Phó giám đốc nhà xuất bản Sự thật, nguyên Tỉnh ủy viên tỉnh ủy Quảng Bình Nguyễn Kiến Giang
    • Giám đốc nhà xuất bản Sự thật Minh Tranh
    • Phó bí thư thành ủy Hà Nội kiêm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Thành phố Hà Nội Trần Minh Việt
    • Phó tổng biên tập báo Hà Nội Mới Phạm Hữu Viết
    • Phó tổng biên tập tạp chí Học Tập Phạm Kỳ Vân
    • Tổng thư kí toà báo Quân đội Nhân dân Trần Thư
    • Nhà báo Vũ Thư Hiên
    • nhà văn Bùi Ngọc Tấn
  • Những người không bị bắt nhưng bị khai trừ đảng:
  • Những người xin tị nạn tại Liên Xô gồm khoảng 40, lúc đó đang đi học hay đi công tác:

Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm bị quy trách nhiệm về bản tuyên bố chung “thân Liên Xô” trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 1 năm 1963 của Chủ tịch Tiệp Khắc Novotny và bị thay thế bởi Xuân Thủy.[16]

Là Viện trưởng Viện Triết học, Hiệu phó trường đảng Nguyễn Ái Quốc, một trong những lý thuyết gia của đảng, ông Hoàng Minh Chính được Trường Chinh giao nhiệm vụ soạn thảo bản Báo cáo chính trị của Hội nghị Trung ương 9. Bản báo cáo ông Hoàng Minh Chính bị bác bỏ, nhưng ông đã tự ý phân phát bài viết mang tựa đề “Về chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam” cho một số đại biểu tham dự hội nghị. Một số các đại biểu đã hưởng ứng lập trường này như Bùi Công TrừngLê LiêmUng Văn Khiêm. Chính vì thế ông Hoàng Minh Chính bị coi là người đứng đầu nhóm Xét lại Chống Đảng.

Theo Trần Đĩnh thì đại sứ Liên Xô ở Hà Nội là Cherbakov đã cố can thiệp xin thả một số nhân vật nhưng chính quyền từ chối.

Nguyên nhân của vụ án

Nhiều nhân vật bị bắt trong thời kỳ này cho rằng nguyên nhân của Vụ án Xét lại Chống Đảng là vì Lê Duẩn và Lê Đức Thọ muốn dùng “hiểm họa xét lại” để hạ bệ tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng quan điểm này trong bài “Revisionism in Vietnam” (1995), Judith Stowe cũng nói ông Võ Nguyên Giáp “là đối tượng chính của chiến dịch bài trừ khuynh hướng xét lại.”

Tuy nhiên Sophie Quinn Judge lại cho rằng Vụ án Xét lại Chống Đảng thể hiện một cuộc đấu tranh tư tưởng, chứ không chỉ đơn thuần mang tính đấu đá cá nhân. “Đó là cuộc cạnh tranh giữa [một bên là nguyện vọng] thống nhất dân tộc (trong khuôn khổ liên minh yêu nước), phát triển khoa học và tiến bộ kĩ thuật với [phía bên kia là] khát vọng cách mạng của quần chúng và sức mạnh biến đổi của cách mạng bạo lực. Nhóm thứ nhất dựa trên quan điểm rằng trí thức có vai trò quan trọng trong xã hội cộng sản, trong khi nhóm kia đặt giá trị cộng sản lên trên tri thức.”

Nhận định

Trong bức thư gửi Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VII, ngày 18 tháng 7 năm 1995, ông Lê Hồng Hà, nguyên Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ tổng hợp Bộ Nội vụ viết về Vụ án Xét lại Chống Đảng: “Có thể nói, sau những sai lầm, oan trái rộng rãi trong Cải cách ruộng đất và Chỉnh đốn tổ chức (1956), thì đây là vụ án oan sai lớn nhất trong lịch sử Đảng ta, xét về quy mô, tính chất. Và, có thể nói không ngoa, đây là vụ án oan sai lớn nhất trong hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam của thế kỷ XX”.

Trả lời BBC về Vụ án Xét lại Chống Đảng, Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh cho biết: “Năm 1993 và 1994, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã kết luận sai phạm của những người trong nhóm đó là hoàn toàn đúng sự thật và phải xử lý như vậy thôi.”

Kết luận của chúng tôi:

Đảng cộng sản Việt Nam hoàn toàn không có lý tưởng gì rõ ràng kể từ khi thành lập cho đến ngày nay, đưa đến lập trường không dứt khoát, chao đảo, lúc thì theo Liên Xô, lúc thì theo Tàu Cộng, chỉ vì muốn được sự giúp đỡ vật chất cho mình, mà không phải vì lý tưởng gì cả. Cả hai anh cả cũng tương tự, đầu óc hoảng loạn, không biết phải làm gì để mang lợi ích cho người dân, chỉ biết là phải chống tư bản theo lý luận của Mác.

Những nhà văn nhà báo, trí thức đã theo lời kêu gọi của lương tri muốn tìm dường giải quyết đất nước trong ôn hòa, nhưng lại được xem là phản động, xét lại chống đảng, và phải theo Mao từng tàn sát hàng chục triệu người dân Trung Hoa.

Lập trường của đảng CSVN cho thấy sự kết luận ở trên là đúng, họ không biết phải đi theo hướng nào, nhóm thì theo Tàu, nhóm thì theo Nga, nhóm thì theo Tây Phương, đa số lợi dụng đảng để làm giàu trên xương máu của dân, trên tiền thuế của người dân. Còn đa số người dân thì muốn theo trào lưu tiến hóa của thế giới là tự do, mong muốn dân chủ để cho nước được phú cường, dân được ấm no mà không cần phải theo ông Mác, ông Mao nào cả vì những “tư tưởng” của các ông này đều đã bị thế giới quăng vào thùng rác lâu rồi.

Trần Vũ.

Comments are closed.